CÂU CHUYỆN THÁM TỬ VDT

Thống kê truy cập
  • Khách online : 48
  • Lượng truy cập : 5608075
Trang Chủ   >>   Pháp luật
25/6/2006 13:17' (GMT+7) | Số lần xem : 1929

Báo cáo tóm tắt Đánh giá tình hình thi hành Luật Doanh Nghiệp

Báo cáo tóm tắt Đánh giá tình hình thi hành Luật Doanh Nghiệp (Tài liệu phục vụ Hội nghị sơ kết thi hành Luật Doanh nghiệp). Liên quan đến ngành nghề kinh doanh thám tử tư tại Việt Nam.

Thám tử tư: Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Tổ Công tác thi hành Luật Doanh nghiệp đã tiến hành điều tra, nghiên cứu và xây dựng Báo cáo đánh giá tình hình thi hành Luật Doanh nghiệp.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức hội thảo lấy ý kiến chuyên gia, đại diện Sở Kế hoạch và Đầu tư của các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc, đại diện một số doanh nghiệp và hiệp hội doanh nghiệp, v.v... Đồng thời, 16 Bộ (gồm Bộ Công an, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Giao thông - Vận tải, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công nghiệp, Bộ Xây dựng, Bộ Nội vụ, Bộ Thương mại, Bộ Thủy sản và Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã góp ý bằng văn bản. Các ý kiến góp ý đã được nghiêm túc xem xét, tiếp thu hoàn chỉnh nội dung báo cáo.

Báo cáo này được soạn thảo với sự hỗ trợ của UNDP (trong khuôn khổ dự án VIE 01/025). Nhân dịp này, chúng tôi xin bày tỏ lòng cám ơn về sự hỗ trợ có hiệu quả của UNDP trong suốt quá trình soạn thảo và thực hiện Luật Doanh nghiệp.

Cùng với Báo cáo toàn văn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư xin trình bày tóm tắt một số nội dung chính như sau:

1. Những mặt được của Luật Doanh nghiệp và việc thực hiện Luật

Thực tế gần bốn năm qua cho thấy cùng với các chính sách đổi mới khác, việc thực hiện Luật Doanh nghiệp đã có bốn mặt được chủ yếu sau đây:

Một là, về cơ bản, công dân được quyền tự do kinh doanh những ngành, nghề mà pháp luật không cấm; giải phóng được tư duy, sáng tạo về ý tưởng kinh doanh và phương thức tổ chức kinh doanh; tạo ra sự thay đổi tích cực trong quan niệm xã hội về doanh nhân và doanh nghiệp (nhờ đó, địa vị xã hội của doanh nhân đang ngày càng được nâng cao); bước đầu khơi dậy, khuyến khích và cổ vũ được tinh thần kinh doanh, ý chí làm giàu cho mình và cho đất nước; củng cố và tăng thêm lòng tin của người đầu tư và kinh doanh vào đường lối đổi mới của Đảng, luật pháp và chính sách của Nhà nước.

Hai là, giải phóng và phát triển được sức sản xuất, huy động và phát huy được nội lực vào xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đáng kể vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách, tạo việc làm và xóa đói, giảm nghèo và giải quyết các vấn đề xã hội khác.

Từ đầu năm 2000 đến tháng 9 năm 2003, đã có hơn 75.000 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh (gấp gần 1,7 lần so với giai đoạn 1991-1999); với số vốn đăng ký mới và đăng ký bổ sung khoảng gần 10 tỷ đô la Mỹ (gấp hơn 4 lần so với 1991-1999), cao hơn số vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký trong cùng thời kỳ. Ngoài ra, còn có hơn 15.000 chi nhánh, văn phòng đại diện và khoảng 800.000 hộ kinh doanh cá thể đăng ký kinh doanh; đưa tổng số hộ kinh doanh cá thể trong cả nước lên khoảng hơn 2,5 triệu hộ.

Nhờ đó, tỷ trọng đầu tư của dân cư và doanh nghiệp trong tổng đầu tư toàn xã hội đã tăng từ 20% năm 2000 lên 23% năm 2001 và 25,3% năm 2002; và năm 2003 ước khoảng gần 27%. Tỷ trọng đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân trong nước liên tục tăng và đã vượt lên hơn hẳn tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp nhà nước (DNNN), gần bằng tổng vốn đầu tư của DNNN và tín dụng nhà nước. Vốn đầu tư của các doanh nghiệp dân doanh đã đóng vai trò quan trọng, thậm chí là nguồn vốn đầu tư chủ yếu đối với phát triển kinh tế địa phương. Ví dụ, đầu tư của các doanh nghiệp dân doanh năm 2002 ở Thành phố Hồ Chí Minh đã chiếm 38% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội, cao hơn tỷ trọng vốn đầu tư của DNNN và ngân sách nhà nước gộp lại (36,5%).

Điều đáng nói thêm là, trong khi FDI thường đến với các địa phương có đặc thù riêng hoặc có vị trí địa lý thuận lợi, thì đầu tư tư nhân trong nước xuất hiện ở tất cả các vùng với nhiều hoàn cảnh khác nhau, kể cả những vùng nghèo với điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn. Vốn đăng ký mới ở tất cả các tỉnh, thành phố trong thời kỳ từ 2000 đến tháng 7 năm 2003 đều cao hơn số vốn đăng ký thời kỳ 1991-1999. Trong đó, có 33 tỉnh, thành phố đạt tốc độ tăng cao gấp hơn 4 lần; có 11 tỉnh đạt tốc độ tăng cao hơn 10 lần; thậm chí có những tỉnh như Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên v.v... đạt tốc độ tăng hơn 20 lần. Ngay cả ở các địa phương tập trung đại bộ phận vốn đầu tư nước ngoài, thì trong mấy năm gần đây, vốn đầu tư thực hiện của tư nhân trong nước cũng lớn hơn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Thực tế nói trên cho thấy đối với đại bộ phận các tỉnh, thì thu hút đầu tư tư nhân trong nước là việc dễ làm và khả thi hơn so với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Theo báo cáo của Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thì có khoảng 80 - 85% số doanh nghiệp đăng ký đang hoạt động; và số vốn đầu tư thực tế của các doanh nghiệp không thấp hơn so với vốn đăng ký. Đây là tỷ lệ khá cao so với các nước khác, kể cả các nước thành viên OECD.

Số doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể mới thành lập kết hợp với số doanh nghiệp mở rộng quy mô và địa bàn kinh doanh trong gần 4 năm qua đã tạo thêm gần 2 triệu chỗ làm việc mới; đã trở thành nguồn cung chủ yếu về chỗ làm việc mới cho người lao động; đưa tổng số lao động làm việc ở khu vực kinh tế tư nhân và hộ kinh doanh cá thể lên đến khoảng 6 triệu người; chiếm khoảng 17% lực lực lượng lao động.

Ba là, thúc đẩy mạnh mẽ việc hình thành và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cụ thể là:

- Bằng việc đơn giản hoá thủ tục thành lập doanh nghiệp, bãi bỏ hàng trăm giấy phép và qui định pháp luật không còn phù hợp về điều kiện kinh doanh và thiết lập một hệ thống văn bản mới hướng dẫn thi hành, Luật Doanh nghiệp và việc thực hiện Luật đã thực sự tạo ra bước đột phá trong cải cách hành chính, góp phần hạn chế tham nhũng, nâng cao đáng kể tính nhất quán, tính thống nhất, minh bạch và bình đẳng của khuôn khổ pháp luật về kinh doanh ở nước ta.

- Luật Doanh nghiệp và việc thực hiện Luật đã tạo ra bước tiến vượt bậc trong việc tạo ra "một sân chơi" bình đẳng, không phân biệt đối xử đối với các loại hình doanh nghiệp; và từ đó, ngày càng có nhiều doanh nghiệp với các loại hình sở hữu khác nhau chuyển sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

- Luật Doanh nghiệp và việc thực hiện Luật đã và đang làm tăng đáng kể mức độ cạnh tranh, một nhân tố cơ bản không thể thiếu của nền kinh tế thị trường; đồng thời, đang đặt ra yêu cầu thúc đẩy phát triển không chỉ thị trường sản phẩm, dịch vụ mà cả các loại thị trường khác, nhất là thị trường vốn, thị trường lao động và thị trường bất động sản.

- Quyền tự do kinh doanh được thừa nhận và bảo đảm kết hợp với những thay đổi tích cực nói trên của hệ thống pháp luật về kinh doanh đã tạo điều kiện tích cực để chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực.

Bốn là, đổi mới một bước cơ bản phương thức và công cụ quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp; phương thức quản lý theo lối "năng lực quản lý đến đâu thì mở đến đó" đã từng bước được thay thế bằng "năng lực quản lý phải được xây dựng, tăng cường đủ mức thúc đẩy và quản lý được quá trình phát triểnơ"; phương thức quản lý nhà nước theo hướng kiểm tra, kiểm soát là chủ yếu đang từng bước được thay thế bằng phương thức hợp tác và tạo điều kiện là chủ yếu; "chế độ tiền kiểm" chuyển sang "hậu kiểm"; v.v... Hiệu lực quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp đang ngày càng được nâng cao. Với những nỗ lực và phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan có liên quan, hiện tượng thành lập doanh nghiệp không nhằm mục đích kinh doanh, nhất là để mua bán hóa đơn, đã được đẩy lùi về căn bản. Những thay đổi nói trên thúc đẩy thêm công cuộc cải cách hành chính và nâng cao năng lực bộ máy hành chính nhà nước phù hợp hơn với yêu cầu của thể chế kinh tế thị trường.

2. Những mặt chưa được

Thực tế gần bốn năm qua cho thấy mặt được, mặt tích cực của Luật Doanh nghiệp là nổi trội và chủ yếu. Tuy vậy, tác động của nó có thể còn lớn hơn, nếu khắc phục được các khiếm khuyết sau đây:

Một là, tác động của Luật Doanh nghiệp không đồng đều giữa các vùng; tập trung chủ yếu ở các khu vực đô thị, gồm thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, ở các thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh. Còn nhiều rào cản đối với doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh, nhất là trong huy động vốn và tiếp cận được với mặt bằng kinh doanh, trong tính thuế và nộp thuế, v.v...

Hai là, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước có liên quan còn chưa đều.

Vẫn còn một số văn bản cần thiết chưa được ban hành. Có những văn bản như thông tư hướng dẫn việc cấp chứng chỉ hành nghề tư vấn pháp lý, hướng dẫn việc xác định nhân thân người thành lập doanh nghiệp đã được Thủ tướng yêu cầu ban hành từ lâu, nhưng vẫn chưa được ban hành.

Các văn bản về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh vẫn chưa tập hợp thành hệ thống; thẩm quyền, thủ tục và điều kiện cấp một số giấy phép kinh doanh còn bất hợp lý; một số nội dung hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đã thay đổi; Uỷ ban nhân dân một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương vẫn ban hành một số văn bản trái thẩm quyền và trái với quy định của Luật Doanh nghiệp.

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, nhất là ở các cấp chính quyền địa phương, còn trễ nải, chưa làm hết chức trách phận sự của mình trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp; một số cán bộ, công chức làm trái các quy định pháp luật về cán bộ, công chức, về chống tham nhũng và thực hành tiết kịêm đã trực tiếp hoặc gián tiếp đăng ký thành lập doanh nghiệp lạm dụng quyền lực quản lý nhà nước phục vụ hoạt động kinh doanh riêng, gây cạnh tranh không lành mạnh và giảm hiệu lực quản lý nhà nước; hoặc tiếp tay cho doanh nghiệp vi phạm pháp luật, nhất là trong mua bán hoá đơn, gian lận trong hoàn thuế giá trị gia tăng, v.v...

Ba là, trình tự, thủ tục và điều kiện đăng ký kinh doanh ở một số địa phương đối với một số ngành, nghề vẫn trái với Luật Doanh nghiệp; can thiệp hành chính trái pháp luật vào công việc nội bộ của doanh nghiệp vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi.

Chi phí gia nhập thị trường vẫn cao so với các nước trong khu vực; một số hồ sơ, thủ tục không cần thiết như xác nhận địa điểm kinh doanh, hợp đồng thuê trụ sở, xác nhận lý lịch, v.v... một phần của cơ chế "xin - cho" đã bị bãi bỏ, nay đang được phục hồi dưới hình thức và công đoạn khác.

Bốn là, cơ quan đăng ký kinh doanh ở cả trung ương, cấp tỉnh và huyện, còn yếu; chưa hoàn thành được các nhiệm vụ theo quy định. Quản lý nhà nước vẫn còn lúng túng, thiếu phương pháp luận khoa học về mục tiêu, về công cụ quản lý, nhất là quy hoạch, giấy phép, điều kiện kinh doanh và phương thức tổ chức kiểm tra, về phân công trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan, v.v... Năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước chậm được bổ sung, chưa đáp ứng yêu cầu của phương thức quản lý mới; còn thấp xa so với yêu cầu tạo điều kiện và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.

Năm là, một số không nhỏ chủ doanh nghiệp vẫn chưa hiểu đúng bản chất, ý nghĩa của đăng ký kinh doanh; một số chủ doanh nghiệp đã hiểu sai lệch về “quyền tự do kinh doanh tất cả những gì pháp luật không cấm”; tổ chức hoạt động kinh doanh mà không tuân thủ đúng các điều kiện kinh doanh, điều kiện về an ninh trật tự v.v...

Quản trị nội bộ, nhất là quản lý tài chính, còn thiếu minh bạch; lối quản trị "phi chính thức", quản lý dựa trên kinh nghiệm bản thân, thiếu chiến lược và kế hoạch kinh doanh cụ thể, v.v... đang là hiện tượng phổ biến. Công tác ghi chép, cập nhật, lưu trữ sổ sách của công ty còn yếu, chưa đúng với yêu cầu theo quy định của pháp luật; việc lập sổ sách kế toán, thống kê vẫn chưa phải để "công khai hóa" giúp những ai có quan tâm đều có thể hiểu đúng và đủ về thực trạng tài chính công ty, về các điểm mạnh, yếu của công ty, v.v...

3. Một số bài học kinh nghiệm

Từ thực tế gần bốn năm thi hành Luật Doanh nghiệp có thể rút ra bảy (7) bài học sau đây:

Một là, Luật Doanh nghiệp được sự ủng hộ rộng rãi, được đón nhận hồ hởi và nhanh chóng phát huy tác dụng to lớn trong thực tiễn. Điều đó (cùng với cơ chế "Khoán 10" trong nông nghiệp trước đây) một lần nữa khẳng định rằng không phải chính sách ưu đãi, bao cấp và bảo hộ, mà là "cởi trói", trao quyền cho người dân, phù hợp với yêu cầu của người dân, thì chính sách đó tự nó sẽ phát huy được tác dụng trong huy động nguồn lực, phát huy sáng kiến và trí tuệ của nhân dân để phát triển. Thực tế tiếp tục khẳng định yêu cầu phải tách biệt và phân biệt rõ việc đầu tư, tổ chức sản xuất kinh doanh và việc quản lý nhà nước. Cụ thể là, việc đầu tư kinh doanh và quản lý sản xuất kinh doanh là của doanh nghiệp, của người đầu tư, không phải của cơ quan và công chức nhà nước. Tất cả những điều kể trên chứng tỏ việc nhất quán đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế phù hợp với thể chế kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, vẫn là vấn đề thời sự ở nước ta.

Hai là, Luật Doanh nghiệp đã trở thành một "hình mẫu" về việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật một cách dân chủ có nội dung phù hợp với thực tế, phù hợp với cơ chế thị trường và cả các thông lệ quốc tế. Tuy vậy, thực tế gần bốn năm qua cũng cho thấy việc "đưa" một chính sách lớn vào cuộc sống, ngay cả khi chính sách đó phù hợp với thực tế, với yêu cầu phát triển của đất nước, là không đơn giản. Đó là cuộc đấu tranh khá gay go giữa cái mới và cái cũ, giữa cải cách và bảo thủ, giữa xu thế từ bỏ cơ chế "xin - cho" với khuynh hướng duy trì cơ chế đó. Điều kiện quyết định để thực thi Luật Doanh nghiệp đúng với nguyên tắc cơ bản của nó chính là ý chí của lãnh đạo cấp cao nhất trong Chính phủ, Thủ tướng và Phó Thủ tướng Chính phủ, chỉ đạo thực hiện một cách nhất quán, giải quyết kịp thời đúng theo quy định của pháp luật những vướng mắc, những bất hợp lý trong tổ chức thực hiện Luật. Đồng thời, yếu tố không kém phần quan trọng là huy động được sự tham gia của công chúng, nhất là của cộng đồng doanh nghiệp, vào việc giám sát thực hiện luật; kịp thời phát hiện các vướng mắc và kiến nghị biện pháp xử lý; biểu dương các điển hình tốt và phê phán hiện tượng trì hoãn, hành vi làm trái quy định của Luật Doanh nghiệp.

Ba là, đảm bảo tính đồng bộ giữa quyền tự do, tự chủ kinh doanh và thể chế kinh tế thị trường. Trong giai đoạn phát triển hiện nay của nền kinh tế, tự do hóa quyền kinh doanh, tự do hóa gia nhập thị trường mới là điều kiện cần nhưng chưa đủ để huy động và phát huy hết nguồn lực hiện có, tận dụng được các cơ hội phát triển và giải quyết được các vấn đề cơ cấu vùng và cơ cấu ngành, nghề của quá trình phát triển. Các giải pháp như hình thành đồng bộ các yếu tố của thị trường, nhất là thị trường các yếu tố sản xuất, đi đôi với mở rộng quy mô "thị trường hóa" nền kinh tế như xây dựng kết cấu hạ tầng, cung cấp thông tin, hỗ trợ phát triển và nâng cao năng lực của các tác nhân thị trường sẽ góp phần "hiện thực hóa" quyền tự do kinh doanh.

Bốn là, đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống pháp luật. Thực tế gần bốn năm qua cho thấy đổi mới và hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp chưa đủ để giải quyết hết các rào cản đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Hiệu lực của Luật Doanh nghiệp đang bị hạn chế đáng kể bởi sự không đồng bộ, không thống nhất, không còn phù hợp của các qui định, nhất là các văn bản liên quan trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp như pháp luật về quyền sử dụng đất, pháp luật về huy động vốn, pháp luật về lao động, pháp luật về thuế, nhất là cách thức tính thuế và thu thuế, v.v... Chính vì vậy, những vướng mắc, rào cản đối với doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh vẫn còn nhiều.

Năm là, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi phải đi cùng với các điều kiện trợ giúp doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi là chưa đủ cho sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng; mà phải có trợ giúp tích cực nhiều mặt của Nhà nước, nhất là đào tạo nâng cao năng lực quản lý cho chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp, v.v... Các trợ giúp của cơ quan nhà nước các cấp không thể chỉ dựa vào lòng nhiệt tình, hăng hái, mà phải có tính chuyên môn, chuyên nghiệp cao.

Sáu là, "hiện thực hóa" quyền tự do kinh doanh và "xã hội hóa" trợ giúp phát triển kinh doanh. Thực tế mấy năm qua cho thấy chỉ có nỗ lực của Nhà nước, của các cơ quan và công chức nhà nước là chưa đủ, mà phải tạo cơ chế huy động được sự tham gia của các tổ chức xã hội như hiệp hội, các tổ chức quần chúng, các trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức tư vấn vào hỗ trợ khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp; đồng thời, sự hỗ trợ từ bên ngoài cũng chỉ có hiệu quả, phát huy được tác dụng như mong muốn, khi doanh nghiệp được tổ chức theo loại hình hiện đại với địa vị pháp lý rõ ràng, được quản lý một cách minh bạch, tuân thủ pháp luật, tôn trọng và tuân thủ các chuẩn mực đạo đức, văn hóa kinh doanh.

Bảy là, năng lực của bộ máy nhà nước vẫn là khâu yếu, chậm thay đổi; thể hiện trên các mặt như: nhận thức nói chung chuyển biến không đồng đều giữa trung ương và địa phương, giữa các cơ quan cùng cấp có liên quan, và chậm hơn so với những thay đổi của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn phong phú, năng động trong mấy năm qua.

Thái độ và tâm lý làm việc, phương thức và công cụ quản lý của các cơ quan có liên quan chưa có thay đổi một cách rõ nét để phù hợp với cơ chế, chính sách mới, còn hiện tượng "dành thuận lợi về mình, đẩy khó khăn về cho doanh nghiệp"; tính khoa học, chuyên môn, chuyên nghiệp theo cơ chế thị trường trong các công việc của cơ quan nhà nước còn thấp; những bộ phận và công cụ cần thiết đối với việc thực hiện Luật Doanh nghiệp nói riêng, hỗ trợ và quản lý phát triển doanh nghiệp nói chung, chưa được xây dựng, củng cố và tăng cường đúng như quy định.

4. Kiến nghị các giải pháp tiếp tục phát huy hiệu lực của Luật Doanh nghiệp

Phân tích các mặt được, chưa được và những bài học trong thi hành Luật Doanh nghiệp cho thấy: để tiếp tục phát huy tác dụng của Luật Doanh nghiệp trên quy mô lớn hơn và sâu hơn, phải thực hiện các giải pháp toàn diện có tính hệ thống, bao gồm không chỉ các giải pháp tự do hóa gia nhập thị trường, mà cả các giải pháp tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ thiết thực cho hoạt động của doanh nghiệp, các giải pháp không chỉ xây dựng và hoàn thiện năng lực quản lý nhà nước, mà cả năng lực quản trị của doanh nghiệp. Bộ Kế hoạch và Đầu tư xin kiến nghị 18 giải pháp lớn sau đây:

1.Các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải nhận thức đúng, đủ và tôn trọng quyền tự do kinh doanh của người dân; chỉ đạo thực hiện nhất quán chính sách "doanh nghiệp được quyền kinh doanh tất cả những ngành, nghề mà pháp luật không cấm";

2. Bộ Tư pháp:

Ban hành thông tư hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề tư vấn pháp lý theo hướng luật sư và những người khác có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp đều được quyền cung ứng dịch vụ tư vấn pháp lý.

Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan nghiên cứu soạn thảo nghị định quy định về phạm vi và điều kiện kinh doanh đối với dịch vụ thám tử điều tra dân sự, kinh tế.

2. Bộ Tài chính:

Chủ trì nghiên cứu soạn thảo nghị định quy định điều kiện kinh doanh (không phân biệt thành phần kinh tế) đối với các dịch vụ đòi nợ, định giá tài sản, đánh giá tín nhiệm, v.v...

Chủ trì nghiên cứu, soạn thảo cơ chế thực hiện chủ trương "đối với đất ở, đất được chuyển nhượng một cách hợp pháp được sử dụng vào mục đích kinh doanh thì không phải trả thêm tiền thuê đất cho Nhà nước"; hướng dẫn cụ thể về việc góp vốn, mua cổ phần bằng giá trị quyền sử dụng đất; dùng quyền sử dụng đất để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Chủ trì,phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tập hợp, xem xét đánh giá các quy định có khả năng tác động tiêu cực đến việc nâng cao tính minh bạch trong quản lý nội bộ doanh nghiệp, nhất là các quy định về kế toán, hạch toán chi phí, căn cứ tính thuế và cách thức thu thuế, quản lý thuế; đồng thời, kiến nghị cơ chế khuyến khích doanh nghiệp nâng cao tính trung thực, minh bạch trong hạch toán, kế toán và quản lý tài chính doanh nghiệp;

3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư:

Chủ trì, phối hợp với Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước nghiên cứu soạn thảo nghị định về phát hành và quản lý phát hành chứng khoán không niêm yết ra công chúng.

Nghiên cứu soạn thảo nghị định về công tác quy hoạch trong quản lý nhà nước theo hướng xác định rõ các loại quy hoạch ở cấp quốc gia, quy hoạch cấp vùng lãnh thổ, quy hoạch cấp tỉnh, quy hoạch cấp huyện, nội dung cơ bản của từng loại quy hoạch đó, cách thức xây dựng và thẩm quyền phê duyệt, cách thức sử dụng quy hoạch trong quản lý nhà nước, v.v...

Chủ trì, phối hợp với Tổ Công tác thi hành Luật Doanh nghiệp rà soát, đánh giá lại hồ sơ, trình tự, thủ tục, điều kiện và thẩm quyền cấp một số giấy phép kinh doanh được dư luận xã hội cho là bất hợp lý; phát hiện các bất hợp lý, kiến nghị hợp lý hóa báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Chủ trì nghiên cứu bổ sung sửa đổi các nội dung còn thiếu, hoặc không còn phù hợp trong các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp, gồm Nghị định số 02/2000/NĐ-CP và Nghị định số 03/2000/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư 07/2002/TT-BKH và Thông tư liên bộ 08/2002/TTLB-TCTK-BKH.

Phối hợp với Tổ Công tác thi hành Luật Doanh nghiệp, Văn phòng Chính phủ tiếp tục tập hợp, rà soát, đánh giá lại hệ thống giấy phép hiện hành và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ:

- Loại giấy phép không còn cần thiết cần bãi bỏ;

- Loại giấy phép không cần thiết cần chuyển thành điều kiện kinh doanh không cần giấy phép;

- Loại giấy phép không cần thiết cần chuyển sang quản lý theo hình thức khác;

- Loại giấy phép cần đơn giản hóa thủ tục cấp phép; kiến nghị về đơn giản hóa, hợp lý hóa hồ sơ, trình tự, thủ tục, thời hạn và thẩm quyền cấp đối với các loại giấy phép đó.

- Dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về căn cứ xác định ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, ngành, nghề cần quản lý bằng giấy phép kinh doanh và cơ chế giám sát đối với hệ thống giấy phép kinh doanh.

Chủ trì nghiên cứu:

- Dự thảo Luật Khuyến khích đầu tư áp dụng chung cho cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, thay thế Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) và Luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sửa đổi).

- Dự thảo bổ sung, sửa đổi Luật Doanh nghiệp áp dụng chung cho tất cả các doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế.

Sớm hoàn thành xây dựng các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, bao gồm chương trình khởi sự kinh doanh, chương trình đào tạo quản lý, chương trình xúc tiến xuất khẩu, chương trình hỗ trợ chuyển giao công nghệ, chương trình đào tạo và phát triển đội ngũ tư vấn về xây dựng dự án, kế hoạch kinh doanh. Nội dung từng chương trình phải xác định rõ mục tiêu, nội dung hỗ trợ, đối tượng thụ hưởng, phương thức và cơ chế thực hiện, địa điểm và thời gian thực hiện, tổng số kinh phí, cơ chế giám sát, tiêu chuẩn và cơ chế đánh giá hiệu quả. Trong thiết kế và thực hiện chương trình cần lưu ý một số điểm sau đây:

Một là, các cơ quan nhà nước cần từng bước rút khỏi chức năng trực tiếp cung cấp dịch vụ, đồng thời chuyển mạnh sang vai trò thúc đẩy, xúc tiến, giám sát và quản lý chất lượng dịch vụ.

Hai là, hỗ trợ phát triển và nâng cao năng lực các hiệp hội theo hướng chuyên môn và chuyên nghiệp hóa, khuyến khích và hỗ trợ phát triển, nâng cao năng lực đội ngũ các nhà cung cấp dịch vụ phát triển kinh doanh tương ứng để họ trực tiếp cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp; tạo điều kiện thu hút sự tham gia của các tổ chức tư vấn, các viện nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng tham gia cung cấp dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp trong khuôn khổ các chương trình quốc gia.

Ba là, phải định rõ ngay từ đầu các tiêu chuẩn hay điều kiện để được nhận hỗ trợ của chương trình; và tất cả doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định đều đương nhiên được nhận hỗ trợ, không phụ thuộc vào chấp thuận của cơ quan nhà nước. Các chương trình hỗ trợ theo nguyên tắc các bên cùng chia sẻ kinh phí; theo thời gian, phần chi phí do doanh nghiệp gánh chịu tăng lên để đến lúc kết thúc chương trình các doanh nghiệp thuộc đối tượng của chương trình có khả năng bù đắp phần lớn hoặc toàn bộ các dịch vụ tương tự.

Bốn là, xây dựng cơ chế giám sát và đánh giá chương trình; huy động và thu hút sự tham gia rộng rãi của các nhà tài trợ trong và ngoài nước, các tổ chức, cộng đồng và các nhóm xã hội có liên quan, nhất là cộng đồng doanh nghiệp và phương tiện thông tin đại chúng, v.v... vào việc thiết kế, thực hiện, giám sát và đánh giá các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hàng năm chương trình phải được kiểm toán độc lập.

4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính cùng phối hợp rà soát, đánh giá lại các hồ sơ, trình tự, thủ tục, chi phí và điều kiện gia nhập thị trường đối với doanh nghiệp, bao gồm đăng ký kinh doanh, khắc dấu, mã số thuế, mua hóa đơn, v.v... xác định rõ các hồ sơ, thủ tục, điều kiện và chi phí bất hợp lý, kiến nghị giải pháp đơn giản hóa, hợp lý hóa báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

5. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội:

Chủ trì nghiên cứu soạn thảo nghị định về điều kiện kinh doanh và tổ chức quản lý kinh doanh dịch vụ giới thiệu việc làm.

Chủ trì rà soát và đánh giá lại các quy định pháp luật, chính sách về thành lập, tổ chức quản lý, khuyến khích đối với các trường, trung tâm dạy nghề; kiến nghị bổ sung sửa đổi theo hướng đơn giản hóa thủ tục thành lập, đa dạng hóa quy mô và hình thức đào tạo, chủ động, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về nội dung đào tạo, v.v... thực sự khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề cho người lao động theo nhu cầu của thị trường.

6. Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu soạn thảo nghị định về điều kiện kinh doanh và tổ chức quản lý kinh doanh dịch vụ môi giới nhà đất.

7. Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Tổ Công tác thi hành Luật Doanh nghiệp tập hợp các văn bản trái với Luật Doanh nghiệp và Nghị định hướng dẫn thi hành luật do các bộ, ngành và các cấp chính quyền địa phương ban hành báo cáo Thủ tướng Chính phủ để quyết định hủy bỏ.

8. Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Tổ Công tác thi hành Luật Doanh nghiệp sớm hoàn chỉnh sửa đổi thay thế "Thẻ người đại diện sở hữu công nghiệp" bằng điều kiện kinh doanh không cần giấy phép như chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 589/CP-ĐMDN ngày 28 tháng 5 năm 2002.

Chủ trì nghiên cứu và trình Chính phủ dự thảo Nghị định về chuyển giao công nghệ (sửa đổi) thay thế Nghị định số 45/1998/NĐ-CP ngày 1 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ về chuyển giao công nghệ.

9. Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì nghiên cứu soạn thảo nghị định sửa đổi về trình tự, thủ tục, điều kiện và thẩm quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất theo hướng đơn giản hóa, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng giá trị hàng hóa/diện tích đất, tăng số lao động và giá trị lao động/diện tích đất, công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

10. Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về tổ chức và cơ chế hoạt động của cơ quan đầu mối đăng ký kinh doanh, theo dõi, phối hợp hỗ trợ và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp theo nguyên tắc thống nhất vào một đầu mối ở cấp trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện, thành hệ thống từ trung ương đến cấp huyện, ở những quận huyện có từ 1.000 đầu mối quản lý trở lên nhất thiết phải thành lập một phòng riêng thuộc Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thống nhất về tiêu chuẩn cán bộ, biên chế theo số lượng công việc, nối mạng thống nhất từ trung ương đến địa phương, v.v... Để lại 100% lệ phí đăng ký kinh doanh phục vụ công việc đăng ký kinh doanh.

11. Tòa án Nhân dân tối cao đăng tải công khai các bản án có hiệu lực của Tòa án về giải quyết các tranh chấp liên quan đến Luật Doanh nghiệp.

12. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tiếp tục chủ động, sáng tạo trong hỗ trợ, xúc tiến và quản lý hiệu quả đối với sự phát triển của doanh nghiệp.

Tiếp tục tuyên truyền phổ biến Luật Doanh nghiệp trong đội ngũ cán bộ, công chức có liên quan thuộc Uỷ ban nhân dân quận, huyện, tỉnh, thành phố quán triệt đầy đủ nội dung Luật Doanh nghiệp, nhất là các nội dung về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, của cơ quan nhà nước có liên quan.

Bãi bỏ các hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh trái với quy định của Luật Doanh nghiệp; bãi bỏ các chỉ thị tạm ngừng cấp đăng ký kinh doanh, tạm ngừng cấp phép kinh doanh đối với các ngành nghề không thuộc đối tượng cấm kinh doanh; bãi bỏ các quy định về điều kiện kinh doanh trái với quy định của Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Xác định loại quy hoạch cần có để định hướng và quản lý quá trình phát triển ở địa phương; rà soát bãi bỏ các quy hoạch không còn cần thiết, không phù hợp với cơ chế thị trường; bổ sung sửa đổi lại các quy hoạch không còn phù hợp với tình hình thực tế đã thay đổi.

Trên cơ sở đánh giá rút kinh nghiệm, tiếp tục xúc tiến vận động đầu tư vào địa phương mình bằng các giải pháp, nội dung và hình thức phù hợp; tiếp tục đối thoại cùng doanh nghiệp, nhất là đối thoại theo chủ đề, đối thoại không chỉ để giải quyết vướng mắc của doanh nghiệp, mà còn cùng doanh nghiệp bàn định thực hiện các dự án chung phát triển kinh tế địa phương; tổ chức thực hiện các chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo khả năng và nhu cầu của địa phương.

Tiếp tục trực tiếp đầu tư phát triển khu, cụm công nghiệp theo quy hoạch; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, nhất là các thủ tục về chấp thuận đầu tư, chấp thuận địa điểm thực hiện dự án, cho thuê hoặc giao đất, thủ tục ưu đãi đầu tư, v.v...

Trực tiếp chỉ đạo xây dựng, nâng cao năng lực cơ quan đăng ký kinh doanh; xây dựng cơ chế phối hợp, cung cấp, trao đổi thông tin, và cụ thể hóa thẩm quyền và trách nhiệm của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục thuế, các Sở ngành kinh tế kỹ thuật, Công an tỉnh, Thanh tra nhà nước tỉnh, Cơ quan quản lý thị trường, Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trong hỗ trợ và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký.

13. Các phương tiện thông tin đại chúng tiếp tục tuyên truyền, giáo dục giá trị, vai trò xã hội của người doanh nhân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để thu hút được ngày càng nhiều người, nhất là giới trẻ, định hướng lập nghiệp bằng con đường kinh doanh.

14. Khuyến khích, hỗ trợ các trường đại học, cao đẳng, các viện nghiên cứu, nhà nghiên cứu khoa học, cán bộ giảng dạy lập doanh nghiệp để họ vừa nghiên cứu khoa học, vừa có điều kiện áp dụng nhanh chóng các kết quả nghiên cứu của họ vào thực tiễn kinh doanh.

15. Các cấp chính quyền địa phương, các hiệp hội, câu lạc bộ doanh nghiệp, các tổ chức quần chúng tổ chức các đợt tham quan học hỏi kinh nghiệm làm ăn, điển hình tốt về khởi nghiệp cho các hộ nông dân, các chủ trang trại, người buôn bán nhỏ có tiềm năng.

16. Các Hiệp hội doanh nghiệp:

Đánh giá lại hoạt động của hiệp hội; xây dựng chiến lược, kế hoạch và nội dung hoạt động của hiệp hội; trên cơ sở đó, kiện toàn tổ chức bộ máy lãnh đạo hiệp hội, bổ sung cán bộ có năng lực, uy tín, nhiệt tình; tăng cường năng lực, tính chuyên nghiệp, chuyên môn, tính thiết thực và hiệu quả trong hoạt động của hiệp hội.

Thường xuyên tập hợp các kiến nghị của doanh nghiệp về luật pháp, cơ chế chính sách, về cách thức quản lý, điều hành của cơ quan nhà nước các cấp, về thái độ của đội ngũ công chức; phân tích, tổng hợp và đề đạt các kiến nghị đó đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan, các cơ quan thông tin đại chúng và các hiệp hội khác; theo dõi, đánh giá sự "tiếp thu" của cơ quan nhà nước, nguyên nhân của "tiếp thu" và "không tiếp thu" để có giải pháp tiếp theo.

Tuyên truyền, giáo dục thành viên xây dựng văn hóa kinh doanh tiến bộ, kinh doanh trung thực, có ý thức chấp hành luật pháp và trách nhiệm cộng đồng cao.

Nâng cao chất lượng cung cấp thông tin; nâng cao chất lượng và đa dạng hóa hình thức trao đổi kinh nghiệm và cơ hội kinh doanh; hỗ trợ lẫn nhau trong phát triển kinh doanh.

Thực hiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trước những can thiệp hành chính trái pháp luật của cơ quan nhà nước, hoặc trước việc "hình sự hóa" các quan hệ kinh tế - dân sự.

17. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phối hợp với các cơ quan nhà nước có liên quan, các hiệp hội doanh nghiệp khác xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng chủ doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp; xây dựng các quy tắc đạo đức và văn hóa kinh doanh; xây dựng mô hình liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp và các nhà khoa học, các viện nghiên cứu, các trường đại học nhằm huy động tiềm năng phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

18. Các chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp:

Thực sự cầu thị và nâng cao ý thức xây dựng văn hóa kinh doanh, đạo đức kinh doanh của doanh nhân Việt Nam: kinh doanh trung thực, chấp hành đúng pháp luật, ý thức trách nhiệm cộng đồng cao, chăm lo đời sống của người lao động; xây dựng và củng cố uy tín, sự tín nhiệm của khách hàng, v.v...

Từng bước học tập xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh; cải tiến nâng cao chất lượng, tính thiết thực và hữu ích của chiến lược, kế hoạch trong quản lý hoạt động và quá trình phát triển của công ty.

Xây dựng ý thức thường xuyên cải thiện, nâng cao tính minh bạch trong quản trị nội bộ công ty; cần nhận thức rằng quản trị minh bạch cũng là yếu tố tăng thêm giá trị của công ty; là một trong những yếu tố của sự phát triển bền vững của công ty; nó cũng là công cụ hữu hiệu để đấu tranh loại bỏ lối can thiệp tuỳ tiện vị lợi cá nhân của một số công chức nhà nước có liên quan, qua đó, sẽ giảm được những khoản "chi phí tiêu cực, đút lót", góp phần làm lành mạnh môi trường kinh doanh chung của cả nước. Lợi ích nhiều mặt của quản lý minh bạch như trình bày trên đây có thể vượt xa "khoản thuế" trốn lậu được nhờ quản lý không minh bạch.

 

Tags : Nguồn: Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương
TỔNG ĐÀI THÁM TỬ VDT 1900. 599. 979 luật sư Nguyễn Minh Long - Văn phòng luật sư Dragon
Hotline : 0913 031 525

VĂN PHÒNG THÁM TỬ TẠI SÀI GÒN

Địa chỉ : B12-7, Chung Cư Khánh Hội 1, số 360C Bến Vân Đồn, phường 1, quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hotline: 1900. 599. 979

Website: www.thamtutu.com.vn

Email: thamtuvdt@gmail.com

=================

 

VĂN PHÒNG THÁM TỬ TẠI HÀ NỘI

Địa chỉ 1: Phòng 6, tầng 14 Tòa nhà VIMECO đường Phạm Hùng, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 1900. 599. 979

Website: www.thamtutu.com.vn

Email: thamtuvdt@gmail.com

===================

 

VĂN PHÒNG THÁM TỬ TẠI HẢI PHÒNG

Địa chỉ : Phòng 4.6, Tầng 4, Tòa nhà Khánh Hội, Lô 2/3C, Đường Lê Hồng Phong, Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng.

Hotline : 1900. 599. 979

Website: www.thamtutu.com.vn

Email: thamtuvdt@gmail.com

==================

 

VĂN PHÒNG THÁM TỬ TẠI ĐÀ NẴNG

Địa chỉ : Tầng 6, Số 35 Tòa Nhà Cao Thắng, Phường Thanh Bình, Quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng.

Hotline: 1900. 599. 979

Website: www.thamtutu.com.vn

Email: thamtuvdt@gmail.com

==================